Sharing Knowledge - Creating Future

Mang triết học vào giáo trình phổ thông

  |   Viết bởi : Trịnh Khánh Linh

(The School of Athens - Raphael)   Một sự thật đã được nhiều thế hệ sinh viên công nhận, rằng bộ môn triết học trong môi trường giáo dục hiện nay không làm cho ...

(The School of Athens - Raphael)

 

Một sự thật đã được nhiều thế hệ sinh viên công nhận, rằng bộ môn triết học trong môi trường giáo dục hiện nay không làm cho học sinh hứng thú. Triết học được nhận định là khô khan, giáo điều, thậm chí còn được cho rằng những thông tin trong khuôn khổ bộ môn này vượt xa những gì học sinh có thể sử dụng trong đời sống hàng ngày cũng như trong chính chuyên ngành của mình.

Nhận định này, cùng với phương pháp mà môn triết học đang được dạy và học tại Việt Nam, không đồng nhất với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo tờ Irish Times, nước Pháp, Đức, Ý, Canada đều bắt đầu bổ sung nội dung triết học trong giáo trình cho lứa tuổi từ trung học cơ sở, trong khi đó tại nước Mỹ và nước Anh, ngoài giáo trình trung học và phổ thông, chương trình P4C (philosophy for children; triết học cho trẻ em) đang được áp dụng rộng rãi. Đặc biệt, nội dung giáo dục triết học trong hệ phổ thông được đan xen vào các lớp quốc ngữ, văn học, vv. Khác biệt với Việt Nam, những quốc gia châu Âu, châu Mỹ này chính là cái nôi và là nơi phát triển của triết học phương Tây, hơn nữa, văn hoá hàn lâm tại đây được nuôi dưỡng một cách vô cùng hệ thống và bài bản. Tuy nhiên, chúng ta không nên vì lẽ đó mà cảm thấy e ngại, thay vào đó, chúng ta nên tư duy rằng: việc đưa triết học vào trong chương trình cũng như nuôi dưỡng văn hoá hàn lâm trong môi trường giáo dục nước nhà sẽ thực sự là một bước tiến cho thế hệ tương lai - những người nắm giữ vận mệnh dân tộc.

Vậy tại sao chúng ta lại cần dạy và học triết học (1)? Triết học tự thân chính là tình yêu trí tuệ, hay như gốc từ tiếng Hy Lạp: φιλοσοφία, philosophia - "love of wisdom". Triết học giúp con người ta sử dụng lý luận, logic để đặt những câu hỏi về nhân sinh quan, về thế giới như ta biết, về chân lý, quy luật, ý thức, niềm tin, và cả ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng để nói về những điều này. Tuy triết học có khối lượng kiến thức vô cùng đồ sộ, song, trong chương trình học từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông, học sinh nên được trau dồi những nền tảng cơ bản của triết học, từ đó có thể vận dụng vào nhiều mặt trong cuộc sống, đặc biệt là với các chuyên ngành các em lựa chọn khi vào đại học. Giáo sư James. R. Davis tại Học viện Đại Học Boston cho rằng, bằng việc đưa triết học vào giáo trình, “học sinh được khuyến khích suy nghĩ về chính sự suy luận cũng như giả định của mình trong nền tảng các môn học khác nhau. Với môn tiếng Anh (hay văn học, tiếng Việt trong trường hợp giáo dục Việt Nam), học sinh có thể đưa ra nhận định cùng lý do liệu một cuốn tiểu thuyết có được coi là một tác phẩm nghệ thuật; trong khoa học, học sinh có thể khám phá liệu ý chúng ta là gì khi chúng ta cho rằng một lý thuyết khoa học là ‘sự thực'.” (Davis, 2013) Cùng với đó, báo cáo năm 2011 của UNESCO tuyên bố rằng: “Vì mục đích của việc giảng dạy triết học chính là để phát triển khả năng phán đoán, tư duy phân tích dựa trên kinh nghiệm của con người, triết học có thể cung cấp công cụ trí tuệ khả dụng, và là sự bổ trợ hữu ích cho các môn học về kỹ thuật cũng như khoa học.” (UNESCO 2011)

Davis còn lập luận rằng: triết học không những nâng cao khả năng tư duy logic cũng như lập luận phân tích, môn học này còn giúp học sinh xây dựng được một hệ thống giá trị, niềm tin mà chúng có thể sử dụng trong chính việc học cũng như trong cuộc sống của mình. Chúng ta có thể lấy ví dụ chân thực về những vấn nạn về niềm tin cũng như đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay: có mấy ai hiểu ý nghĩa của việc thờ cúng tổ tiên, hay những giá trị cơ bản mà đạo Phật hay bất kì tôn giáo nào khác đang hướng đến? Những tập tục được truyền lại từ đời này đến đời khác, được lặp đi lặp lại, song, những người thực hiện những nghi thức này lại không đủ thấu hiểu về chính những hành động của họ, từ đó không thể gắn cho những hành động này những giá trị mang tính chủ quan, mà lại thường phải dựa vào những ý kiến khách quan của những người khác để đưa ra kết luận. Hậu quả của sự mù mờ này chính là sự quá khích, cụ thể là việc người ta dễ dàng tin tưởng những chiêu trò buôn thần bán thánh, trở thành nạn nhân của sự thiếu hiểu biết. Vậy học triết học sẽ giúp được gì cho các em học sinh trong việc đưa ra nhận định về giá trị cho tất cả các vấn đề trong đời sống, bao hàm cả vấn đề về tôn giáo? Đối với một cuốn tiểu thuyết, học sinh có thể lập luận rằng đó có phải là một tác phẩm nghệ thuật hay không, từ đó đưa ra những câu hỏi như tư tưởng hàm chứa trong nội dung cuốn tiểu thuyết này là gì? nhân vật chính đưa ra lựa chọn như vậy, liệu đó được coi là tốt hay là xấu? Giá trị nào đã khuyến khích nhân vật chính hành động và lựa chọn như vậy? Vv… Từ đó, bằng chính dẫn chứng trong văn học, học sinh có thể mở rộng đề tài tranh luận xung quanh những câu hỏi lớn hơn như: làm thế nào để chúng ta định nghĩa và phân định tốt xấu? hay ranh giới của việc chúng ta tôn trọng giá trị khác biệt của mỗi cá nhân là ở đâu? Vv… Những câu hỏi này sẽ được các em sử dụng một cách vô thức trong nhiều những vấn đề khác trong cuộc sống để đưa ra nhận định về giá trị của mỗi sự việc, hiện tượng một cách thấu triệt hơn.

Không chỉ trong khuôn khổ các bộ môn nhân văn, xã hội, học sinh còn thực sự tìm thấy lợi ích từ việc học triết học trong chính các bộ môn khoa học, kỹ thuật. Theo thông cáo của UNESCO năm 2007, việc đưa triết học vào trong khuôn khổ các bộ môn khoa học giúp học sinh hiểu được sự khác biệt giữa “quá trình nghiên cứu của khoa học… và loại khoa học đã kết thúc.” (UNESCO 2007) Sự khác biệt này, theo Davis, sẽ thay đổi quan điểm của học sinh, từ đó các em sẽ có cái nhìn thấu triệt hơn về khoa học, không còn ngây thơ cho rằng khoa học là một công trình trần trụi, trình bày những sự thật không đổi. (Davis, 2013)

Theo Jana Mohr Lone và Mitchell Green, từ Đại Học Washington và Đại Học Connecticut, việc học triết học có thể giúp học sinh gây dựng được chính nhân cách và quan điểm của chính mình. Học sinh có thể chủ động đưa ra quan điểm đúng hoặc sai, công bằng hay không công bằng, và nhận định rằng làm thế nào để sống một cuộc đời trọn vẹn và được coi là “hạnh phúc". Những thông tin và sự lựa chọn này sẽ dần hình thành nhân cách của các em, và trở thành “tiếng nói nội tâm" giúp các em cẩn trọng và sống một cuộc sống có ý nghĩa nhất. (Lone & Green, 2013)

 

1. Từ “triết học” như được sử dụng trong bài viết này được mặc định là triết học phương tây - bao gồm triết học cổ đại (Plato, Aristotle, Socrates) đến hiện đại (như các triết gia về khoa học như Thomas Kuhn hay Karl Popper). Bài viết này tập trung vào triết học phương Tây vì bản thân triết học Á Đông là sự pha trộn giữa triết học, tôn giáo, và văn hoá.

 

 

 

Tài liệu tham khảo: 

Lone, J & Green, M (2013). Philosophy in High Schools: Guest Editors’ Introduction to a Special Issue of Teaching Philosophy. https://www.pdcnet.org/8525737F00588478/file/5DD886431969BFD3C1257B9800513BBC/$FILE/teachphil_2013_0036_0003_0005_0007.pdf

Davis, J (2013). Socrates in Homeroom: A Case Study for Integrating Philosophy across a High School Curriculum. https://www.pdcnet.org/8525737F00588478/file/0B4A5C954261549BC1257B9400528968/$FILE/teachphil_2013_0036_0003_0009_0030.pdf