Sharing Knowledge - Creating Future

Làm thế nào để dạy trẻ về màu sắc?

  |   Viết bởi : Trịnh Khánh Linh

Màu sắc chính là một trong những chìa khoá để chúng ta thấu hiểu tâm hồn và nội tâm trẻ. Đối với người lớn, màu sắc chỉ đơn thuần là những tính từ gắn liền với những vật dụng cố định, với rất nhiều những chức năng sử dụng, đi cùng với những giá trị khác nhau. Song, đối với trẻ thì mỗi màu sắc - màu đỏ, màu vàng, màu xanh, màu nâu…

Màu sắc chính là một trong những chìa khoá để chúng ta thấu hiểu tâm hồn và nội tâm trẻ. Đối với người lớn, màu sắc chỉ đơn thuần là những tính từ gắn liền với những vật dụng cố định, với rất nhiều những chức năng sử dụng, đi cùng với những giá trị khác nhau. Song, đối với trẻ thì mỗi màu sắc - màu đỏ, màu vàng, màu xanh, màu nâu… đều tự chúng sở hữu những “chân lý" riêng. Trẻ không nhận định màu sắc theo khuôn khổ hoàn cảnh cố định như người lớn, mà trẻ cảm nhận màu sắc với cặp mắt hoàn toàn khác. Chính sự nhìn nhận đặc biệt này của trẻ, trong điều kiện được rèn luyện và gìn giữ, không những sẽ thúc đẩy khả năng nghệ thuật, mà còn giúp thế giới quan của trẻ được hoàn thiện hơn nữa.

Trong giai đoạn đầu tiên khi ngôn ngữ của trẻ dần hình thành, trẻ hầu như không bao giờ tự ý sử dụng những mệnh đề như “quả táo đỏ" hay “bầu trời xanh". Những đôi tay nhỏ bé ấy sẽ giơ lên cao, nắm lấy khoảng trời rộng trước mặt để cảm nhận “màu xanh", có lẽ là một sắc màu đặc biệt mà danh từ “bầu trời” không thể diễn tả hết. Nhưng màu xanh nào là bầu xanh của bầu trời mùa hạ oi bức? Màu xanh nào là màu xanh ẩn dấu cơn mưa từ chân trời phía xa? Sự quan sát và cảm nhận chân thực những sắc màu ấy chính là bước đầu để trẻ tiếp xúc với nghệ thuật. Vì vậy, chúng ta không nên tối giản hoá thế giới sắc màu của trẻ bằng việc dạy cho trẻ ghi nhớ và lặp lại những mệnh đề miêu tả (quả táo đỏ). Lại nói, khi trẻ hỏi lại chúng ta “Tại sao quả táo lại đỏ?” - chúng ta chỉ có một câu trả lời (mà chính chúng ta cũng không thỏa mãn) đó là “Vì quả táo có màu đỏ.” Trong khi thực sự thì có cả táo xanh lẫn táo vàng thì chính những mệnh đề miêu tả này (hay còn có tên tiếng Anh là “color-coding childhood” - “lập trình màu sắc tuổi thơ”), kết hợp với hình ảnh cố định trong tri giác trẻ sẽ làm giảm kích ứng tò mò, ngừng trệ khả năng quan sát và cảm nhận sâu sắc, cũng như sự sáng tạo của trẻ.

Nhà triết gia, nhà giáo dục Rudolf Steiner cho rằng trẻ nên được “sống trong thế giới màu sắc" (Lichthart, 2004) thay vì được tiếp nhận thông tin về màu sắc một cách thụ động. Quan điểm này kết hợp với nhận định của nhà tâm lý học Loris Malaguzzi - người sáng lập phương pháp Reggio Emilia, rằng trẻ nhỏ cũng sở hữu khả năng cũng như chủ kiến để quyết định và vận hành nhiều hoạt động, ngược lại với quan niệm thông thường về việc trẻ cần phải được dạy dỗ, được chăm chút, được nâng niu từng giây từng phút để trẻ có thể “an toàn" phát triển. Đặc biệt trong xã hội các nước Đông (Nam) Á, chịu ảnh hưởng từ Nho giáo, trẻ em được mặc định là “chưa đủ", là “thiếu"... thay vì quan niệm rằng trẻ em là “tròn đầy" là “thánh thiện vẹn toàn" như các nước phương Tây chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Thiên Chúa Giáo. Câu cửa miệng mà nhiều quý vị phụ huynh Việt Nam hay dùng khi con cái mình làm một điều gì đó bất hợp lý đó là “Nó còn nhỏ mà,” hay “Trẻ con nó biết gì đâu.” Điều này cũng được thể hiện rõ ràng trong phong tục tập quán, trong khi cha mẹ Á Đông tránh mang con em mình tới chốn linh thiêng như đền, chùa, vì trẻ có thể sẽ gào khóc, sẽ hiếu động, làm ảnh hưởng đến chốn tôn nghiêm, thì trong nhiều nền văn hóa khác, chỉ có những đứa trẻ - những sinh vật vô cùng thánh thiện trong trắng, mới được người lớn nghiêm túc trao trọng trách vô cùng quan trọng và linh thiêng là đi giúp lễ trong nhà thờ. Quan niệm về những đứa trẻ trong quan niệm của các nước phương Tây, hoặc chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, kể cả khi rời xa tôn giáo, vẫn mang đến cho gia đình, nhà trường, và xã hội một niềm tin vững vàng vào chính khả năng của con em mình. Hơn thể nữa, những đứa trẻ khi nhận được sự tin tưởng tuyệt đối sẽ vô cùng tự tin, chủ động, cũng như không ngại ngần thể hiện quan điểm và sự ưu tú của bản thân.

Chính sự trọn đầy, vẹn toàn của trẻ, thay vì sự thụ động phụ thuộc vào ngữ cảnh, vật chất của đa số người lớn, mới khiến cho trẻ có khả năng nhìn nhận những sắc màu một cách chân thực nhất. Đối với trẻ, màu sắc không phải là cái gì, con gì - màu sắc chính là giác quan, là sự cảm nhận, là “như thế nào". Waldorf sử dụng lý thuyết về tinh thần màu sắc (morality of colors) của học giả Đức Johann Wolfgang von Goethe để diễn tả trạng thái của trẻ khi tiếp xúc với những màu sắc khác nhau. Ví dụ, trẻ sẽ cảm nhận rõ ràng rằng màu đỏ vàng mang hơi thở của sức mạnh, trong khi màu vàng tông đỏ lại đầy tính bùng nổ, táo bạo. Hơn nữa, trẻ em cũng sẽ hiểu rằng một màu vàng đỏ khi được pha trộn với màu xanh lam sẽ tạo ra một loại cảm xúc kỳ quái, thậm chí là đầy bồn chồn, lo lắng. Đó là lý do vì sao khi trẻ em bắt đầu làm quen với màu vẽ, các em thường khó chịu, thậm chí cương quyết bỏ dở tác phẩm của mình khi loại tông độ gây “phản cảm" này xuất hiện.

Lý thuyết về tinh thần màu sắc không chỉ dừng lại ở việc trẻ nhìn và cảm nhận, mà những loại xúc cảm trẻ học được qua màu sắc in sâu trong tiềm thức trẻ. Điều này được chứng tỏ rõ nét qua sự cảm nhận của nhà văn Ursula Burkhard, một người khiếm thị.

Tác giả Ursula Burkhard, một người khiếm thị mô tả sự hiểu biết của bà về màu sắc, và làm thế nào bà có thể “học” được về những khái niệm về màu sắc, đặc biệt là trong những câu chuyện cổ tích, và làm thế nào bà có thể cảm nhận được “cuộc sống nội tâm” của màu sắc:

“Những câu chuyện dân gian đơn giản nói cho tôi biết rất nhiều về màu sắc… Khi mẹ kế của nàng Bạch Tuyết chuyển thành màu vàng trong cơn ghen tị - đó hẳn là một màu vàng đầy nọc độc, khác biệt hoàn toàn so với màu vàng ngọt ngào của những bắp ngô non. Rồi có đến bao nhiêu những thái độ khác nhau ở trong cùng một màu “đỏ" trong câu chuyện Bạch Tuyết và Hồng Hoa! Ở đó có màu đỏ trang nhã của những bông hoa hồng, màu đỏ sống động của những quả dâu ngọt lịm trong khu rừng già. Màu đỏ hừng hực trên khuôn mặt người lùn đang tức giận. Màu đỏ của bầu trời chiếu rọi đầy hy vọng… Trong màu đỏ đầy sự cứu rỗi của bầu trời hoàng hôn như hoàng tử biến trở lại thành người. Và khi đó, chúng ta được thấy chàng - như một vị vua vĩ đại, choàng tấm áo bào đỏ đầy uy nghi, kiêu hãnh, và quyền quý.” (Muller, 2010)

Những chi tiết như vậy rất dễ dàng bị quên lãng, đi vào trong khung nền của mỗi khoảnh khắc, mỗi bức tranh, hay mỗi câu chuyện. Để nuôi dưỡng tâm hồn nghệ thuật, hay đơn giản là giác quan thuần túy của mỗi đứa trẻ, chúng ta nên thực sự để trẻ “sống trong thế giới màu sắc.” Chính những khám phá sơ khai của chính trẻ về thế giới xung quanh cũng như ý nghĩa của các sự vật hiện tượng trong thế giới sẽ có hiệu quả sâu sắc hơn là việc chúng ta mang đến những mệnh đề miêu tả có sẵn để trẻ tiếp nhận. Ngoài việc vô ý tạo ra rào cản, làm dần mất đi sự nhìn nhận tinh tế và trí sáng tạo của trẻ, chúng ta còn tạo ra cho trẻ thói quen tiếp nhận những thông tin sẵn có một cách dễ dàng, mà không khuyến khích trẻ hỏi lý do tại sao.

Việc được tiếp xúc nghệ thuật trong lứa tuổi mầm non là vô cùng quan trọng, xong tiếp xúc như thế nào để trẻ có được cái nhìn trọn vẹn nhất lại là một bài toán khó, đòi hỏi giáo viên và phụ huynh phải thực sự để ý đến ý thức và mong muốn của trẻ. Để dạy trẻ về màu sắc, chúng tôi khuyến khích gia đình và nhà trường sử dụng phương pháp vẽ màu nước theo Waldorf. Tuy phương pháp này có thể được đưa vào giảng dạy cho tất cả các lứa tuổi, nhưng chúng tôi nhấn mạnh việc áp dụng với lứa tuổi từ 2 đến 5 khi trẻ mới bắt đầu làm quen với màu sắc. Phương pháp vẽ này không những không phụ thuộc vào yếu tố sự vật, hoàn cảnh mà còn giúp trẻ sáng tạo nên những câu chuyện vô cùng thú vị về chính tác phẩm của mình. Từ đó, qua ngôn ngữ của màu sắc được thể hiện rõ ràng trên bức tranh, chúng ta có thể phần nào hiểu tâm lý của các em nhỏ hơn. Để thực hiện phương pháp này, chúng ta sẽ cần có ba màu cơ bản là vàng, đỏ, xanh lá được pha loãng cùng nước. Giấy vẽ sẽ được làm ướt trước khi sử dụng. Trẻ sẽ tự do sử dụng ba màu sắc này, từ nhạt đến đậm, từ đơn giản đến phức tạp, dần dần qua từng lớp màu để tạo nên tông độ, cũng như pha trộn giữa các màu để tạo ra vô vàn màu sắc mới. Đối với trẻ, hoạt động chính là sự trải nghiệm màu sắc chứ không phải là để tạo ra một tác phẩm, một bức tranh.

Một số các hình vẽ màu nước theo phương pháp Waldorf của trẻ:

 

Tranh 1 (trái): “Màu đỏ của mình đang nghỉ ngơi, và cậu ấy nằm dài trên chiếc giường màu xanh. Nam, bốn tuổi rưỡi” (Muller, 17, 2010)

Tranh 2 (phải): “Màu da cam của tớ hạnh phúc đến mức bạn ấy nhảy khắp mọi nơi. Nữ, bốn tuổi rưỡi.” (Muller, 19, 2010)

 

 

 









 

Thư mục tham khảo:

Muller, Brunhild. Painting with Children. Floris Books, 2010

Lichthart, Attie. Painting in Waldorf Education. Awsna Publications, 2004.